Trang chủ / Chi tiết bài viết

Đĩnh Lan tự  (Thứ bẩy | 16/07/2011 )

hanhthien.net (Làng Hành Thiện) - Đĩnh Lan Tự còn gọi chùa Ngoài, có lịch sử sai khác nhau về nhiều mặt: Phật tích, danh tính chùa và quá trình di chuyển, xây dựng chùa… theo 2 nguồn tư liệu.

- Gia phả họ Vũ Hành Thiện ghi chép chùa Đĩnh Lan có tiền sử từ nhiều thế kỷ trước ở địa phương khác; di chuyển xây dựng lại ở làng Giao Thuỷ (Hộ Xá) thuộc phủ Thiên Trường vào năm 1958; dựng gác chuông, đúc chuông đồng và đúc tượng Thánh Mẫu bằng đồng năm 1783; di chuyển lần nữa tới Hành Cung trang, nay là Hành Thiện, vào năm 1786, xây cất 2 dãy hành lang năm 1901.

- Hành Thiện Xã Chí (Hành Thiện tương tế hội – Gia Định – 1974) cho hay tiền thân chùa Đĩnh Lan là ngôi nhà lợp cỏ dựng năm Đinh Mùi – 1784 để thờ đức Thánh Mẫu, xây cất thành chùa vào năm 1787 hoặc năm 1788 mang tên Đĩnh Lan, là chữ khác trên pho tượng bằng gỗ trôi dạt vào bờ sông Hồng, nhân dân gần đó rước tượng về thờ. Cụm công trình dựng thêm gác chuông năm 1832; xây dựng lại, thay gỗ tạp bằng gỗ lim vào năm 1865; xây cất thêm 2 dãy hành lang năm 1904; làm mái củng trước củng và nhà thờ Tổ năm 1918.

Chùa Đĩnh Lan đã hai lần phải đương đầu với sức ép của chính quyền cơ sở yêu cầu dỡ bỏ chùa. Vào mấy năm đầu thập kỷ XX, thời quảng canh đang chiếm ưu thế trong sản xuất nông nghiệp. Theo chủ trương của nhà nước mở rộng diện tích canh tác và để chuẩn bị cho cơ giới hóa nông nghiệp, Hành Thiện đã dồn hết mồ mả ở các cánh đồng khác về nghĩa trang Tiền Sơn (1962), nhưng chính quyền xã Xuân Khu và huyện Xuân Trường còn yêu cầu Hành Thiện dỡ nhà, dồn dân xóm chùa Ngoài vào khu dân cư trong làng hiện đang còn nhiều ao bỏ hoá và nhiều nhà vắng chủ, một số từ đường tạm thời nguội lạnh khói hương, có thể cho một số hộ dân ở. Theo đó dỡ cả chùa Đĩnh Lan nhưng không làm lại chùa ở chỗ khác như nhà dân; Vật liệu dỡ chùa sẽ hỗ trợ cho một số nhà dân, phần còn lại là sở hữu tập thể, chủ yếu là gỗ lim, vật liệu chính vào thời điểm đó để làm khung dệt vải. Chùa Đĩnh Lan và dân xóm chùa Ngoài thoát hiểm lần nay do chủ trương dồn dân không khả thi, không hợp lòng dân. Phần lớn nhà dân là tranh tre cũ nát, để nguyên còn nhà, dỡ ra thành củi rác, không còn gì có thể gọi là vật liệu để làm lại nhà ở nơi khác. Dân không đồng tình, thông qua tiếng nói có tình có lý của ông Phạm Viết Quyết và bà Lê Thị Ba nguyên bí thư và phó bí thư Đảng uỷ xã Xuân Khu. Cơ quan công quyền các cấp đã phải nhượng bộ, từ bỏ ý định dịch chuyển cả 1 xóm khoảng hơn 200 khẩu. Vừa thoát hiểm này, Đĩnh Lan tự lại gặp nguy khác. Do thiếu hiểu biết về văn hoá tín ngưỡng, với lý sự bài trừ mê tín, người ta đã dỡ bỏ Vũ Chỉ năm 1972, tiếp đến là các đền miếu khác. Trừ chùa Keo đã xếp hạng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia, các công trình văn hoá khác đều có nguy cơ dỡ bỏ, không ngoại trừ Đĩnh Lan tự. Cho đến khi miếu Văn Xương dỡ bỏ năm 1980 mà Đĩnh Lan tự vẫn tồn tại, thế là thoát, chùa Đĩnh Lan qua được “thời ba phá”.

Xuống cấp nặng sau nhiều thập kỷ không được duy tu bảo dưỡng, chùa Đĩnh Lan bắt đầu tu tạo, phục chế nhỏ lẻ từng hạng mục công trình xây dựng và ký tự phụng thờ nội thất từ năm 1990, đáng kể là:

Phục chế dãy hành lang phía Đông năm 1990.

Phục chế dãy hành lang phía Tây năm 1994.

Đại tu gác chuông, phục chế cổng, tường và cây đèn tiền cảnh vào năm 2000.

Cây cạp bờ hồ phía trước chùa năm 2004.

Tổng kinh phí tu tạo các hạng mục trên và mấy việc nhỏ lẻ khác là 120 triệu đồng. Người Hành Thiện định cư tại Hoa Kỳ tiến cúng trọn gói kinh phí đại tu gác chuông 50 triệu đồng, phần còn lại do ngân quỹ của chùa Keo chi trả. Ngoài ra còn hàng trăm công lao động của nhân dân Hành Thiện tiến cúng.

 Hiện trạng Đĩnh Lan tự toạ lạc trong khuôn viên 1800 m   ở chóp đuôi cá, thuộc xóm chùa Ngoài làng Hành Thiện. Nội chùa 700 m   là cụm kiến trúc “Nội công ngoại quốc” với toà nhà toà nhà to hình chữ công (I) là chùa Phật, gác chuông và nhà thờ tổ ở phía sau, hành lang 2 dãy 12 gian (6 gian x 2) chạy dọc 2 bên Đông, Tây mảnh sân hẹp phía trước chùa Phật. Chùa trông ra hồ nước rộng rợp bóng cây cổ thụ đa đề, tiếp giáp với cánh đồng lúa mênh mông bên bờ sông Hồng.

Chùa Phật gồm 3 toà: Tiền Đường, Thiên Hương, Tam Bảo (3 cung: đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam). Cả 3 toà gối chung trên  48 cột gỗ lim kê đá tảng (đường kính 30cm/cột cái và 20cm/cột quân).

- Tiền đường 5 gian, 2 chái, 2 mái ngói Nam, bờ nóc phía trên, bờ guột 2 hồi trang trí con sô với đầu đao uốn cong mềm mại; bộ khung vì kèo kết cấu “câu đầu kè truyền” gối trên nhiều cột gỗ lim kê đá tảng. Hệ thống y môn, cửa võng bằng gỗ, sơn son thếp vàng lộng lẫy, trang trí hoa văn tinh sảo: Long vân điểm xuyết hoa cúc ở riềm trên, vân lồng mặt nguyệt ở giữa và tua chỉ tứ quý ở dưới.

- Toà Thiên Hương 2 gian, vì kèo kết cấu “giá chiêng chồng rường” gối trên bộ khung gỗ lim kết cấu tứ trụ. Đệ Nhị cung có pho tượng Đức Phật bằng gỗ.

- Toà Tam Bảo 3 gian, bộ vì kèo kết cấu “kẻ truyền trốn cột” gối trên 14 cột riêng và 4 cột chung (trốn cột). Đệ Tam cung có 3 hiện vật tiêu biểu là:

Bài vị Tam Bảo thường trụ (Phật, Pháp, Tăng) bằng gỗ. Mỗi bài vị cao 43cm, rộng 16cm tạc chữ nổi; hai bên riềm bài vị trạm trổ răng cưa xen lá hoả: đế bài vị tạo hình cánh sen với hoa văn vân lồng nguyệt trạm nổi.

Tượng Phật Bà Quan Âm Nam Hải bằng đồng, là tác phẩm mỹ thuật đặc sắc về tư thế vóc dáng và các hoạ tiết. Tượng ở tư thế đứng cao 1,0m tai chảy, gương mặt bầu với đôi mặt khép hờ phúc hậu, hai tay chắp trước ngực theo thế kết ấn hài hoà với hai vạt áo cà sa vắt chéo chữ V. Một số pho tượng khác nữa với chất liệu khác nhau là tượng Đức Phật Di Đà, Đức Di Lặc, Đức Quan Âm toạ sơn, Đức Quan Âm quá hải 12 tay.

Bát hương đồng hình trụ tròn cao 27cm, đường kính miệng 22cm. Mặt trước đúc nổi hoạ tiết lưỡng long chầu nguyệt sắc nét với cụm đuôi xoắn tạo dáng bát hương chân quỳ. Hai quai tạo dáng đôi rồng chầu uốn cong mềm mại. Mặt sau nhấn dòng chữ Hán: Ất Tỵ trọng thu (mùa thu năm Ất Tỵ) - 1905 ?

Gác chuông 1 gian 2 tầng 8 mái, bộ vì kèo gối trên 12 cột gỗ lim kê đá tảng gồm 2 cột cái và 10 cột quân. Chuông đồng treo tầng trên cao 85cm và quai chuông cao 40cm tạo hình đôi bồ lao. Dòng chữ Hán trạm nổi trên chuông là “Đĩnh Lan tự chung”. Chuông không ghi năm đúc, nhưng có thể là khi dựng gác chuông năm 1832 theo Hành Thiện xã chí hoặc năm 1783 theo gia phả họ Vũ Hành Thiện. Khánh bằng đá treo tầng dưới, hình cá chép dài 167cm, cao 67 cm, dày 16cm tạc nổi rõ nét đầu cá, vây và đuôi cá, tiếng thánh rền và lảnh; không rõ tạc năm nào, cùng năm đúc chuông hay không ?

Ngoài những hiện vật trên, chùa Đĩnh Lan còn lưu giữ nhiều cổ vật quý hiếm khác bằng đồng, gốm sứ, đặc biệt là các văn tự cổ chữ Hán như phả ký, hoành phi đại tự và 8 câu đối chạm khắc chữ Hán vàng son và sơn đen.

Chùa Đĩnh Lan được công nhận là di tích lịch sử văn hoá tỉnh Nam Định đầu năm 2003. Theo hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử văn hoá thì chùa Đĩnh Lan phụng thờ đức Phật Như Lai và đức Phật Mẫu Quân Âm Nam Hải.

Chùa Đĩnh Lan mở lễ hội hàng năm vào ngày rằm tháng 2 Âm lịch. Xưa có nhiều trò vui, tiêu biểu nhất lá tiết mục “thổi cơm thi”: Nhóm lửa bằng cách cọ xát thanh nứa khô, phải nấu cơm chín trong thời gian cháy hết nén hương dài. Những năm gần đâu chủ yếu tế lễ, chỉ có mấy trò chơi thông thường.

Nguồn: Sách Hành Thiện Quê Ta
Người gửi:Vũ Quang Thành



Tin Bài khác

Liên kết

Nét tổng quan về làng Hành ThiệnGửi bài viết, tài liệuFacebook làng Hành Thiện

Đăng ký nhận tin

Thiet ke web ha noi, thiet ke logo ha noi